Quê ngoại

(Phỏng theo một chuyện có thật ở miền Nam)

Buổi chiều đầu thu ở Moskva thật đẹp. Ánh nắng dịu như tơ nõn bao trùm trên các ngọn cây cao. Nền trời xanh như ngọc thạch điểm lơ thơ vài ba làn mây trắng bồng bềnh. Trước khi bước vào cầu thang của ngôi nhà tập thể để lên lầu tám, tôi còn quay lại lưu luyến nhìn lần cuối quang cảnh buổi chiều êm ả và tuyệt diệu. Ông cụ người Nga dẫn đường cho tôi tuy đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn còn quắc thước và nhanh nhẹn. Khi đến chân cầu thang, ông quay lại cười rất tươi :

- Chịu khó nhé, anh bạn trẻ, hôm nay mất điện mà!

- Không sao đâu, cụ ạ! Cụ leo được thì cháu cũng leo được thôi.

Một giờ trước đây, tôi quen ông cụ này ở công viên thành phố. Lần đầu tới Moskva, mọi vật đối với tôi đều lạ lẫm và tuyệt đẹp. Tôi đang ngồi trên ghế đá ngắm cảnh trời chiều thì chợt ông cụ đến bên cạnh hỏi bằng tiếng Việt rất sõi :

- Xin lỗi, có phải ông là người Việt Nam không?

Tôi vừa đáp “Dạ phải” thì ông cụ đã tự giới thiệu :

- Tôi là Alexander Platonov. Tôi sống ở Việt Nam lâu lắm và xem Việt Nam như quê hương thứ hai.

Rồi ông cụ sà xuống bên cạnh, hỏi tôi sang Moskva đã lâu chưa, đi công tác hay đi du lịch, hiện ở đâu và tình hình Việt Nam dạo này ra sao. Tôi lần lượt trả lời cho cụ rõ. Qua dăm ba câu chuyện làm quen, ông cụ có vẻ mến tôi lắm nên mời tôi về nhà chơi.

Phòng khách khá rộng, bài trí đơn sơ trang nhã mà đẹp, cuối phòng đặt một chiếc đàn dương cầm còn mới. Cụ gọi vợ ra giới thiệu với tôi, đó là một phụ nữ Nga ngoài sáu mươi tuổi, có nét đẹp phúc hậu. Bà trò chuyện rất vui, hỏi thăm tôi về Việt Nam qua lời thông dịch của chồng.

Trà nước xong, ông cụ bắt đầu kể về thân thế của mình :

- Năm 1939 khi nổ ra chiến tranh thế giới lần thứ hai, tôi đã tình nguyện gia nhập Hồng quân Liên Xô. Bấy giờ tôi còn rất trẻ, lòng sục sôi nhiệt huyết, chỉ muốn đập tan quân phát xít Đức để bảo vệ tổ quốc. Ngày 22-6-1941 quân Đức tấn công Liên Xô, tiến tới gần sát Moskva, và qua ống nhòm, chúng đã có thể nhìn thấy các tháp điện Kremlin. Nhưng tại đây, 50 sư đoàn tinh nhuệ của Hitler đã bị đập tan. Quân đội Đức phải quay sang tấn công phía nam và phía bắc. Năm 1942 Đức tấn công Stalingrad. Đơn vị tôi được điều đến để bảo vệ thành phố này. Trong một trận đánh ác liệt, tôi bị thương và bị bọn Đức bắt làm tù binh đưa sang Đức rồi sang Pháp. Bấy giờ Pháp đã bị Đức chiếm đóng, chúng dựng lên chính phủ bù nhìn Vichy do Thống chế Pétain đứng đầu. Tuy nhiên phe kháng chiến do tướng De Gaulle lãnh đạo vẫn thỉnh thoảng giáng cho Đức những đòn chí tử. Bọn Đức không bao giờ tin cậy chúng tôi nên chỉ giao những công việc lao động nặng nhọc hay thu dọn chiến trường sau trận đánh.

Chẳng rõ làm thế nào mà phe kháng chiến Pháp biết tôi không phải là người Đức nên cho người bí mật liên lạc với tôi và khuyên tôi nên trốn sang hàng ngũ kháng chiến. Thật không còn gì mừng rỡ cho bằng. Một đêm không trăng không sao, tôi liều chết trốn khỏi doanh trại Đức theo người liên lạc sang hàng ngũ quân kháng chiến Pháp. Tôi được đón tiếp nồng nhiệt như một người bạn thân lâu ngày mới gặp lại và tôi tìm được không khí ấm cúng như trong một gia đình.

Ông cụ ngừng lại, rít một hơi thuốc dài, ngửa mặt thả khói lên trần nhà rồi tiếp :

- Sau khi Hồng quân Liên Xô phản công mãnh liệt, quân Đức bị quân Đồng minh tấn công trên khắp các mặt trận phải lui về thế thủ rồi dần dà rút quân khỏi Liên Xô và các lãnh thổ Đông Âu đã chiếm đóng. Ngày 6-6-1944 quân Đồng minh đổ bộ Normandie trên đất Pháp, chuẩn bị tiến vào nước Đức.

Tháng tư năm 1945, Berlin bị oanh tạc nặng nề, sự sụp đổ của chế độ Quốc xã chỉ còn tính từng ngày, Hitler phải tự sát và quân Đức buộc phải đầu hàng không điều kiện. Bấy giờ tôi đã là một sĩ quan trong quân đội Pháp. Trong khi tôi còn đang vận động để được giải ngũ và xin hồi hương thì bỗng nổ ra cuộc chiến tranh Việt Pháp vào tháng 12 năm 1946. Đơn vị tôi được lệnh sang chiến đấu ở Việt Nam.

Lúc đầu tôi đóng ở Cần Thơ, sau chuyển đến Mỹ Tho rồi sang Bến Tre. Cùng đi với quân Pháp trong các trận càn, tôi vô cùng đau xót thấy dân lành vô tội Việt Nam bị Pháp tàn sát dã man trong máu lửa. Tôi cũng được biết Việt Nam bấy giờ đã là một nước Dân chủ Cộng hòa và là đồng minh rất thân thiết với tổ quốc tôi nên tôi tìm mọi cách để chạy sang hàng ngũ quân Giải phóng. Nhưng tôi là người nước ngoài, dáng vẻ râu ria rất giống người Pháp, nếu lọt vào tay du kích thì bị giết như chơi nên không dễ tìm ra cơ hội. Tôi phải chờ đợi khá lâu, đến đầu năm 1950 cơ hội ấy mới đến: Một người con gái Việt Nam khoảng 20 tuổi, dáng vẻ nông dân, rắn chắc khoẻ mạnh, mặt mày tròn trĩnh khá xinh, thường ngày lân la đến chỗ đồn tôi đóng, khi thì bán thức ăn, khi thì bán nước giải khát và thuốc lá, tìm cách làm quen với tôi. Bấy giờ tôi nói tiếng Việt đã khá, chúng tôi trò chuyện với nhau dễ dàng. Đến khi thật thân tình, cô gái ấy mới cho tôi biết cô tên là Bé - Nguyễn Thị Bé - và đề nghị đưa tôi sang hàng ngũ kháng chiến. Tôi mừng rỡ vô cùng nhưng cũng thận trọng thăm dò một thời gian, biết chắc không phải bị lừa, tôi mới bằng lòng ra đi. Một đêm tối trời, đã có hẹn trước, tôi trốn ra khỏi đồn thì đã thấy cô Bé chờ sẵn, dẫn tôi chạy băng đồng qua nhiều làng mạc có những rặng tre thưa thớt và nhiều ngôi nhà cháy dở, cuối cùng đến chỗ đóng quân của quân Giải phóng. Tôi được đón tiếp rất nồng hậu, những cái bắt tay thật chặt, những lời thăm hỏi chân tình và nhất là các anh em chiến sĩ gọi tôi là “đồng chí” khiến tôi cảm động đến ứa nước mắt. Từ đó tôi sinh hoạt ăn ở trong đơn vị như một chiến sĩ Việt Nam chính cống. Cuộc sống vật chất rất thiếu thốn nhưng tình đồng đội thân mật dễ thương. Công việc chính của tôi là làm thông dịch viên trong các cuộc hỏi cung tù binh Pháp và đêm đêm chĩa loa vào đồn kêu gọi lính Pháp buông súng về với hàng ngũ kháng chiến. Ngoài ra, thỉnh thoảng tôi cũng theo các chiến sĩ đánh đồn.

Đến đây, ông cụ ngừng lại trong giây lát, dõi mắt về một hình ảnh xa xăm nào trong dĩ vãng rồi tiếp :

- Thấy tôi và cô Bé yêu nhau thật lòng, đơn vị đứng ra làm đám cưới, một đám cưới đơn sơ, không xe hoa, không pháo nổ nhưng đầy ắp thân tình. Mối tình ấy đã cho chúng tôi một bé gái xinh đẹp dễ thương vào đầu năm 1952. Tôi đặt tên cháu là Dina, còn vợ tôi thì gọi gọn lỏn là bé Na. Mấy tháng sau, đơn vị tôi được lệnh điều đi nơi khác, đi về miền đông xa xôi rồi nay đây mai đó, gần ba năm trời tôi không được tin tức gì của vợ con cả.

Tháng 7 năm 1954 hiệp định Genève được ký kết và mấy tháng sau đó, đơn vị tôi được lệnh tập kết ra Bắc. Một buổi sáng, trong khi chúng tôi tập trung chờ tàu thủy, tôi bỗng thấy một người đàn bà bế con hớt hơ hớt hải chạy tìm khắp nơi và nhìn tận mặt mọi người. Khi cô ấy đến gần, tôi chợt nhận ra là vợ tôi, cô ấy ôm chầm lấy tôi và khóc nức nở. Qua câu chuyện nói trong nước mắt, tôi biết rằng vì đã lâu không có tin tức của tôi, lại thêm có kẻ đưa tin tôi đã hy sinh và cũng vì kinh tế quá khó khăn, cô đã đi bước nữa. Người chồng mới rất khó tính và hẹp hòi, không muốn nuôi con người khác, nhất là một đứa con lai nên bé Dina phải sống trong cảnh hắt hủi của người cha ghẻ. Bấy giờ bé Dina mới được ba tuổi. Cô Bé trao con cho tôi và nói trong tiếng khóc:

- Thôi, anh đem con đi, nuôi nấng và yêu thương nó, chớ sống với em nó khổ lắm. Nếu anh về được Liên Xô thì đem con theo, cố gắng cho nó ăn học đàng hoàng, còn em thì…

- Nói đến đây, cô ngập ngừng nức nở.

Sau khi ra Bắc, cha con tôi lưu lại Việt Nam đến năm 1977 mới trở về Moskva. Trong thời gian ấy, bé Dina theo học các trường ở Hà Nội, cháu rất giỏi tiếng Việt, văn chương Việt và đã tốt nghiệp đại học.
Ông cụ bỗng nhiên ngừng lại thở dài. Tôi hỏi :

- Giải phóng xong, cụ có vào Nam tìm lại cô Bé không?

- Có, cuối năm 1976, trước khi về Moskva, tôi dắt cháu Dina về Bến Tre tìm cô Bé để cháu thăm mẹ và từ biệt nhưng không gặp, chẳng ai biết cô ấy đi đâu, còn sống hay đã chết.

- Rồi sau khi về Moskva cụ mới kết duyên với bà nhà ?

- Phải, về Moskva được hơn hai năm thì tôi cưới nhà tôi. Bà ấy không có con nên yêu thương Dina như con đẻ.

Vừa lúc ấy một thiếu phụ khoảng ngoài 40 tuổi bước vào. Ông cụ giới thiệu tôi là người bạn Việt Nam mới quen và chỉ người thiếu phụ nói :

- Dina đấy.

Người đàn bà hai dòng máu ấy cúi chào tôi rất lễ phép. Bà khá đẹp, mũi cao, mắt sáng, da trắng nhưng phảng phất nhiều nét rất Việt Nam. Ông cụ nói :

- Dina lấy chồng là giáo sư đại học, có được một đứa con gái. Cháu đi học chắc cũng sắp về.

Dina tiến lại gần bên tôi, thân mật hỏi thăm đủ mọi thứ chuyện, từ con người đến cảnh vật và đời sống ở Việt Nam. Cánh cửa xịch mở, một cô gái trẻ trung xinh xắn khoảng 16-17 tuổi vừa đi vừa nhảy nhót vào phòng, thấy tôi bỗng chững lại. Ông cụ tươi cười :

- Natasa, cháu ngoại của tôi đấy.

Rồi cụ bảo :

- Cháu chào chú đi.

Cô gái cúi đầu lễ phép nói bằng tiếng Việt:

- Cháu chào chú ạ!

Tôi rất ngạc nhiên: 

- Cháu nói được tiếng Việt à ?

- Vâng ạ! Sinh ngữ chính của cháu là tiếng Việt. Cháu chọn tiếng Việt vì đó là tiếng nói của ngoại cháu và mẹ cháu.

Tôi thật sự cảm động, Ông cụ cười:

- Trong lúc mọi người nô nức đi học tiếng Anh để kiếm được nhiều tiền thì cháu nhất định chọn tiếng Việt. Tôi và ba mẹ cháu thấy nó có tình như vậy nên cũng chiều theo.

Rồi ông cụ khoe :

- Cháu đàn giỏi lắm. Natasa, cháu đàn cho chú nghe một bản đi.

Cô gái ngoan ngoãn ngồi vào đàn. Những âm thanh dịu dàng dìu dặt vang lên, chập chờn như những làn sóng biếc. Bản “Dòng sông xanh” (Le beau Danube bleu) bất hủ lướt êm dưới mười ngón tay ngà. Tôi lặng im nghe, những nốt nhạc trầm bổng du dương đưa hồn tôi tới dòng sông xanh chảy quanh co qua miền Trung Âu thơ mộng, đầy cỏ cây xanh mướt.

Bản nhạc dứt, cô gái quay lại nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

Tôi nồng nhiệt khen :

- Cháu đàn tuyệt lắm, quả là một cô gái có tài. Chú tin rằng cháu sẽ có một tương lai âm nhạc rất rực rỡ.

Cô gái cúi đầu mỉm cười thay cho lời cảm ơn. Tôi lại hỏi :

- Thế có bao giờ cháu nghĩ tới chuyện về thăm quê ngoại không?

- Thưa chú có ạ ! Nghỉ hè sang năm cháu sẽ cùng mẹ về thăm quê ngoại. Nếu may ra tìm được bà ngoại cháu thì còn gì sung sướng cho bằng.

***

Tôi ra về mà cảm thấy ấm lòng. Một cô gái nhỏ ở phương trời tây xa xôi kia vẫn luôn luôn hướng về quê ngoại, ở đó có một bà ngoại trìu mến thân thương tuy chưa một lần gặp mặt.

HUYỀN VIÊM

Lượt xem: 338

Ý kiến của bạn (0)

Gởi ý kiến

hẹp hơn | rộng hơn

busy

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Mới cập nhật