Dòng vốn FDI đã góp phần đáng kể để phát triển kinh tế - xã hội Quảng Nam, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các cơ quan quản lý nhà nước.
![]() |
Hiệu quả đầu tư
Năm dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 4,15 tỷ USD được cấp phép trong năm 2009 đã chính thức đưa Quảng Nam gia nhập “Câu lạc bộ 1 tỷ USD”. Vượt qua Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai để chiếm ngôi vị số một, trở thành địa phương có lượng vốn đăng ký mới lớn nhất cả nước chứng tỏ Quảng Nam vẫn còn nhiều sức hấp dẫn các nhà đầu tư đến mở những cuộc làm ăn lớn.
Hai mươi năm thu hút FDI (thực chất chỉ 12 năm), kể từ giấy phép đầu tư đầu tiên cấp cho Công ty Đá quốc tế Thái Bình (Luxembourg), hoạt động tại Núi Thành, Quế Sơn năm 1989, Quảng Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm kêu gọi FDI. Không thể phủ nhận các nỗ lực này đã góp phần gia tăng nguồn vốn FDI, qua đó, thúc đẩy tăng trưởng và làm thay đổi diện mạo kinh tế địa phương. Con số 70 dự án đầu tư (13 dự án Khu công nghiệp, 17 dự án Khu KTM Chu Lai và 40 dự án nằm trên các vùng) với tổng vốn đăng ký hơn 5,018 tỷ USD, đóng góp hơn 244 tỷ đồng ngân sách nhà nước, giải quyết hơn 14.500 lao động hiện nay, vẫn chưa nhiều và lớn so với tiềm năng kinh tế, lợi thế về nhân công giá rẻ, nguồn tài nguyên dồi dào, chi phí sản xuất thấp và nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư với nhiều chính sách ưu đãi của Quảng Nam. Song, đó cũng không phải là con số quá nhỏ trong bối cảnh thu hút đầu tư giữa hai cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (1999 và 2009).
Nếu 10 năm trước, đa số dự án đầu tư thuộc các doanh nghiệp Đài Loan; các dự án thường tập trung vào khai thác, chế biến khoáng sản, nuôi trồng thủy sản thì giai đoạn này đã không ngừng gia tăng các dự án thuộc lĩnh vực Quảng Nam ưu đãi như chế biến nông-lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, xây dựng và kinh doanh khu nghỉ mát, giày thể thao cao cấp… Nhiều doanh nghiệp tên tuổi (Perla, Groz Beckert, Philand…) đến từ Hoa Kỳ, Anh, Thụy Sĩ, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hà Lan… trở thành cơ hội lớn cho Quảng Nam phát triển.
Tuy hầu hết dự án FDI tại Quảng Nam là dự án nhỏ, chưa có nhiều dự án mang tính đột phá và không ít dự án đã bị rút giấy phép đầu tư nhưng dòng vốn này đã kích thích dòng đầu tư trong nước gia tăng. Những đóng góp về khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật chất lượng cao, cùng năng lực quản lý điều hành đã tác động đến các doanh nghiệp, đến tư duy cán bộ trong công tác quản lý đầu tư tại Quảng Nam. Tỷ trọng công nghiệp xây dựng và dịch vụ trong GDP tăng lên 77%, sản xuất công nghiệp tăng 20,56% năm 2009, có sự đóng góp lớn của các dự án FDI.
Cần thay đổi chiến lược thu hút FDI
Chu Lai đã chọn được một mô hình động lực. Con đường ven biển nối Hội An đến Kỳ Hà theo dự án “Sắp xếp cư dân vùng ven biển” cùng cam kết đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư… sẽ tạo cơ hội lớn để Quảng Nam đón làn sóng FDI “bùng nổ” sau năm 2010. “Chính sách thu hút đầu tư đã phát huy hiệu quả. Giải quyết tốt việc tiếp cận đất đai, thủ tục bồi thường giải tỏa, đáp ứng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực là đã có thể yên tâm quyết định số phận Quảng Nam trong việc thúc đẩy thu hút FDI” - ông Trần Văn Tri, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, nói.
Song việc thu hút FDI cần phải thay đổi, trước hết là tư duy chiến lược. Bởi, sức hấp dẫn từ nguồn vốn này quá mạnh, dẫn đến tình trạng cố chạy theo số lượng, nên Quảng Nam đã tự làm khó mình khi không thẩm tra kỹ năng lực tài chính của nhà đầu tư mà dễ dàng cấp phép; tham dự vào một cuộc cạnh tranh không lành mạnh khiến nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, du lịch vô giá của tỉnh nhà có thể bị bán rẻ và tự làm suy yếu vị thế mặc cả của mình. Cơ quan quản lý đầu tư thừa nhận là chưa có một thống kê cụ thể về số lượng các dự án chậm hoặc chưa giải ngân và số vốn thực hiện của các dự án đầu tư ít được nói tới; kết quả là một số dự án không thể triển khai vì nhà đầu tư không đủ năng lực, đất đai bị găm trong các dự án ảo nhiều năm. Hệ quả là phần lợi nhuận mang lại cho địa phương từ FDI không tương xứng với giá trị nguồn tài nguyên vĩnh viễn bị mất đi. Trong khi đó, quá trình chuyển giao công nghệ như mong đợi đã chưa xảy ra mà chỉ dừng lại ở mức cung cấp nhân công cho hoạt động gia công giá rẻ và cho thuê mặt bằng là chính.
Một câu hỏi đặt ra, nếu sau này, các nhà đầu tư nước ngoài rút về nước do tình hình khủng hoảng - một điều hoàn toàn có khả năng xảy ra, thì liệu Quảng Nam có thể duy trì hoạt động của các cơ sở này ở mức độ nào đó nhằm tiếp tục giữ việc làm cho người lao động, bảo đảm ổn định xã hội? Chưa có một nghiên cứu độc lập đánh giá liệu các cộng đồng dân cư nghèo ven biển buộc phải hy sinh nhà cửa, ruộng vườn để nhường chỗ cho những resort lộng lẫy hay các sân golf thênh thang, có được đền bù thỏa đáng hay không? Có tìm được việc làm cho cư dân sau giải tỏa hay không? Với các câu hỏi đó, có lẽ, nên mở nhiều cuộc hội thảo khoa học, phân tích, đánh giá hiệu quả FDI và thay đổi hình ảnh Quảng Nam trong chuyện mời gọi đầu tư. Nghiên cứu, chọn lĩnh vực thiếu, yếu, xây dựng chiến lược ưu tiên hút vốn cho ngành ấy, tập trung vào những dự án có lợi cho nền kinh tế. Không nên chạy theo số lượng dự án và không thể cấp phép tràn lan để tránh dẫn đến tình trạng nhiều dự án treo như hiện nay. Sẵn sàng loại bỏ dự án không triển khai hoặc thiếu hiệu quả, như đã từng thu hồi giấy phép của nhiều nhà đầu tư trong vòng 3 năm qua.
TRỊNH DŨNG
- 12/03/2010 12:16 - Phát điện cuối năm nay
- 24/02/2010 09:47 - Vóc dáng huyện công nghiệp
- 12/01/2010 09:30 - Cơ chế nào cho điện vùng cao?
- 08/01/2010 11:51 - Điện Bàn đi tới huyện công nghiệp
- 25/12/2009 13:39 - Đại Hiệp, chuyển động từ công nghiệp
- 21/12/2009 12:21 - Chọn mô hình động lực cho Chu Lai
- 18/12/2009 15:02 - Động lực mới cho Chu Lai
- 18/12/2009 14:56 - Chu Lai, "mở" theo hướng nào?
- 18/12/2009 09:14 - Điện lực Quảng Nam, một chặng đường phát triển
- 18/12/2009 09:01 - Những “cây sáng kiến”




